DỤNG THẦN LÀ GÌ? PHÂN BIỆT DỤNG THẦN – HỶ THẦN – KỴ THẦN TRONG BÁT TỰ
Nếu chỉ được chọn một khái niệm vừa quan trọng vừa dễ bị hiểu sai nhất khi học Bát Tự,Dụng Thầnchắc chắn nằm trong nhóm đầu.
Có người nói:
“Nhật Chủ yếu thì lấy Ấn làm Dụng Thần.”
Người khác lại nói:
“Sinh mùa đông thì cần Hỏa làm Dụng Thần.”
Một người khác nhìn cùng lá số lại bảo:
“Nguyệt Lệnh là Chính Quan, nên Quan mới là Dụng Thần.”
Ba câu tưởng như mâu thuẫn.
Nhưng đôi khi vấn đề không nằm ở lá số.
Vấn đề nằm ở chỗba người đang dùng chữ “Dụng Thần” theo ba hệ quy chiếu khác nhau.
Đây chính là cửa mà người học Bát Tự phải vượt qua.
Bởi nếu chưa biết mình đang dùng hệ thống nào, câu hỏi:
“Dụng Thần của tôi là hành gì?”
rất dễ biến thành một trò chọn Ngũ Hành.
Và từ đó lại kéo theo hàng loạt kết luận:
thiếu Hỏa nên mặc màu đỏ;
thiếu Kim nên dùng đồ kim loại;
Dụng Thần là Thủy nên càng nhiều Thủy càng tốt;
gặp năm Dụng Thần chắc chắn đại cát;
gặp năm Kỵ Thần chắc chắn đại hung.
Bát Tự không đơn giản như vậy.
Dụng Thần không phảimàu sắc may mắn.
Không phảihành đang thiếu.
Cũng không phảimột lá bùa Ngũ Hànhcứ đưa thêm vào là tốt.
Muốn hiểu Dụng Thần, trước hết phải hiểu:
Mệnh cục đang gặp vấn đề gì?
Sau đó mới hỏi:
Khí nào có khả năng giải quyết vấn đề ấy?
Đó mới là lúc chữ“Dụng”bắt đầu có ý nghĩa.
Dụng Thần – 用神 nghĩa là gì?
用 – Dụng:dùng, sử dụng.
神 – Thần:trong ngữ cảnh mệnh lý không nhất thiết mang nghĩa thần linh, mà thường chỉ một khí, một yếu tố hoặc một “thần” trong hệ thống Can Chi – Thập Thần được đưa vào sử dụng.
Có thể hiểu theo nghĩa thực hành:
Dụng Thần là yếu tố giữ vai trò then chốt để cấu trúc mệnh cục có thể vận hành theo hướng cần thiết.
Nhưng câu này vẫn chưa đủ.
Bởi:
“cần thiết để làm gì?”
mới là câu hỏi quyết định.
Có lá số cần:
giảm cái quá mạnh.
Có lá số cần:
nâng cái quá yếu.
Có lá số cần:
Thông Quan giữa hai khí đang giao chiến.
Có lá số không thiếu lực nhưng:
quá lạnh – quá nóng – quá khô – quá ẩm
nên cần Điều Hậu.
Có lá số trọng tâm lại nằm ở:
Cách Cục của Nguyệt Lệnh.
Đó là lý do không thể dùng một câu:
“Thân Vượng lấy Tài Quan, Thân Nhược lấy Ấn Tỷ”
để giải quyết tất cả Bát Tự.
Một trong những nhầm lẫn lớn nhất: “Dụng Thần” không chỉ có một cách hiểu
Nếu đọc các hệ thống Tử Bình khác nhau, chúng ta sẽ gặp ít nhất hai cách dùng rất lớn của chữDụng Thần.
Dụng Thần theo Tử Bình Chân Thuyên
TrongTử Bình Chân Thuyên, câu mở đầu phần luận Dụng Thần rất rõ:
“Bát tự dụng thần, chuyên cầu nguyệt lệnh.”
Tức là:
Dụng Thần của Bát Tự trước hết tìm từ Nguyệt Lệnh.
Sau đó dùng Nhật Can phối với khí của Nguyệt Lệnh, xét sinh khắc để lập thành các cấu trúc Tài – Quan – Ấn – Thực, Sát – Thương – Kiếp – Nhận...
Ở hệ thống này:
Dụng Thần gắn rất chặt với Cách Cục.
Ví dụ:
Giáp Mộc sinh tháng Dậu.
Dậu là Tân Kim.
Đối với Giáp:
Tân = Chính Quan.
Theo logic Cách Cục:
→ có thể lấyQuanlàm trung tâm cấu trúc.
Lúc này chữ “Dụng” không đơn giản có nghĩa:
“Ngũ Hành đang thiếu và cần bổ.”
Mà gần hơn với:
“Thần mà Nguyệt Lệnh đưa ra để lập cấu trúc của mệnh.”
Dụng Thần theo phép Vượng Suy – Phù Ức
Trong rất nhiều hệ thống Bát Tự hiện đại, “Dụng Thần” lại thường được dùng theo nghĩa:
Ngũ Hành hoặc Thập Thần cần thiết nhất để sửa thế mất cân bằng của Nhật Chủ và toàn mệnh.
Ví dụ:
Nhật Chủ quá Vượng:
→ cầntiết, hao hoặc chế.
Nhật Chủ quá Nhược:
→ cầnsinh hoặc trợ.
Đây là cách tư duy:
Phù – Ức
tức:
cái yếu thì nâng
cái quá mạnh thì tiết hoặc chế.
Tinh thần này có thể thấy rất rõ trongĐích Thiên Tủykhi phầnThể Dụngnói:
Đạo có Thể và Dụng, không thể chỉ nhìn một phía; quan trọng là phù – ức phải thích nghi.
Sách đồng thời nhấn mạnh phải xác định “thứ quan trọng nhất” để dùng chứ không thể cố định một công thức.
Đây chính là nguồn gốc của nhiều cách xác định:
Dụng Thần Phù Ức
trong thực hành hiện nay.
Vậy cách nào đúng?
Câu trả lời tốt hơn không phải:
“Cách này đúng, cách kia sai.”
Mà là:
Trước tiên phải biết người luận đang dùng chữ “Dụng Thần” theo hệ nào.
Nếu theoTử Bình Chân Thuyên – Cách Cục pháp:
→ trọng tâm làNguyệt Lệnh và thành bại của cách.
Nếu theoVượng Suy – Phù Ức:
→ trọng tâm làthực lực Nhật Chủ và thế cân bằng toàn mệnh.
Nếu theoĐiều Hậu:
→ trọng tâm có thể chuyển sanghàn – noãn – táo – thấp.
Nếu mệnh cục có hai khí giao chiến:
→ trọng tâm đôi khi làThông Quan.
Đó là lý do cùng một lá số có thể xuất hiện những câu:
“Cách dụng là Quan.”
“Phù Ức dụng là Thủy.”
“Điều Hậu cần Hỏa.”
Không nhất thiết tất cả đều đang nói cùng một việc.
Vì sao phải học Vượng Suy trước khi học Dụng Thần?
Ở bài trước chúng ta đã đi qua:
Đắc Lệnh – Đắc Địa – Đắc Thế – Thông Căn – sinh trợ – khắc tiết hao.
Đó chính là nền móng.
Nếu chưa biết Nhật Chủ đang:
Vượng
hay:
Nhược
thì không thể dùng phép Phù Ức một cách có căn cứ.
Ví dụ:
Nhật Chủ Giáp Mộc.
Thấy rất nhiều Thủy.
Người mới có thể nghĩ:
“Thủy sinh Mộc, vậy Thủy chắc tốt.”
Nhưng nếu Giáp Mộc vốn đã:
sinh mùa xuân;
có Dần Mão làm căn;
Tỷ Kiếp thành thế;
Thủy lại rất nhiều;
thì thêm Thủy chỉ làm:
Mộc càng được sinh mạnh hơn.
Khi ấy:
cái sinh mình chưa chắc là cái mình cần.
Đây chính là lý do Dụng Thần không thể xác định bằng quan hệ:
sinh = tốt
khắc = xấu.
Dụng Thần không phải hành bị thiếu
Đây là một trong những sai lầm phổ biến nhất.
Giả sử lá số:
không có Hỏa.
Điều đó chỉ chứng minh:
Hỏa không xuất hiện rõ trong cấu trúc đang quan sát.
Nó chưa trả lời:
Hỏa có cần thiết hay không.
Một mệnh cục đã quá khô nóng mà lại thiếu Thủy thì việc tiếp tục thêm Hỏa có thể càng làm khí táo.
Một lá số thiếu Kim nhưng Mộc vốn đã yếu, nếu Kim lại đóng vai trò khắc Mộc thì “bổ Kim” chưa chắc có ý nghĩa gì.
Do đó:
Thiếu ≠ cần.
Và:
Có nhiều ≠ dư thừa.
Muốn biết một hành có nên dùng phải nhìnvai trò của nó trong toàn cục.
Dụng Thần giống “thuốc” hơn là “vitamin”
Một hình ảnh rất dễ hiểu là:
mệnh cục có bệnh → tìm thuốc.
Nhưng “bệnh” ở đây không phải bệnh lý sức khỏe.
Đó là cách gọi tượng trưng cho:
chỗ mất cân bằng hoặc nút thắt trong cấu trúc Ngũ Hành.
Ví dụ:
Bệnh là Mộc quá Vượng
có thể cần:
Hỏa để tiết
hoặc:
Kim để chế
tùy cấu trúc.
Bệnh là Kim – Mộc giao chiến
có thể cần:
Thủy Thông Quan
để biến:
Kim khắc Mộc
thành:
Kim → Thủy → Mộc.
Bệnh là mệnh cục quá lạnh
đôi khi cần:
Hỏa để ôn ấm.
Như vậy:
Không biết “bệnh” thì chọn “thuốc” chỉ là đoán.
Đây cũng là lý do không nên mở lá số ra rồi đi tìm Dụng Thần ngay lập tức.
Dụng Thần theo Phù Ức
Đây là cách dễ tiếp cận nhất sau bài Vượng Suy.
Khi Nhật Chủ tương đối Vượng
thường phải xét các hướng:
Tiết
Hao
Khắc chế
Tương ứng thường là:
Thực Thần – Thương Quan;
Tài;
Quan – Sát.
Nhưng chữ quan trọng là:
“thường”.
Ví dụ Nhật Chủ Mộc quá mạnh.
Có thể dùng Hỏa:
Mộc → Hỏa
để tiết khí.
Có thể dùng Thổ:
Mộc khắc Thổ
để tiêu hao.
Có thể dùng Kim:
Kim khắc Mộc
để chế.
Nhưng ba cáchkhông hoàn toàn giống nhau.
Nếu Kim quá yếu mà Mộc cực mạnh:
Kim đưa vào có thể không đủ sức chế.
Nếu Hỏa đã quá táo:
tiếp tục thêm Hỏa lại tạo vấn đề Điều Hậu.
Nếu Thổ quá dày làm khí bế:
thêm Thổ cũng chưa chắc đúng.
Vì vậy Phù Ức không phải:
Vượng → chọn đại một hành khắc mình.
Khi Nhật Chủ tương đối Nhược
thường xét:
Sinh
và:
Trợ.
Tức:
Ấn
và:
Tỷ – Kiếp.
Ví dụ Nhật Chủ Giáp Mộc yếu:
có thể cần:
Nhâm – Quý Thủy
để sinh Mộc.
Hoặc:
Giáp – Ất Mộc
để trợ Mộc.
Nhưng vẫn phải hỏi:
Mộc có căn không?
Nếu hoàn toàn vô căn và toàn cục đã Tòng theo một thế rất mạnh thì cưỡng ép sinh Nhật Chủ có thể phá thế.
Đó chính là lý doCực Nhược – Tòng Cáchkhông thể dùng chung công thức vớiThân Nhược bình thường.
Dụng Thần theo Điều Hậu
Có những lá số xét Vượng Suy chưa đủ.
Bởi vấn đề lớn nhất lại nằm ở:
khí hậu của Ngũ Hành.
Các khái niệm thường dùng:
Hàn – lạnh
Noãn – ấm
Táo – khô
Thấp – ẩm.
Ví dụ:
Mộc sinh giữa mùa đông.
Nước rất nhiều.
Mộc tuy được Thủy sinh nhưng:
trời quá lạnh, nước quá hàn.
Lúc ấy chỉ nói:
“Thủy sinh Mộc nên tiếp tục dùng Thủy”
có thể bỏ qua vấn đề lớn hơn:
Mộc cần dương khí để phát sinh.
K窮通寶鑒 – Cùng Thông Bảo Giámđặc biệt chú trọng kiểu tư duy này. Ví dụ khi bànẤt Mộc tháng Dần, sách nói thời tiết còn dư lạnh nên trước tiên cần Bính Hỏa làm ấm, rồi mới xét Quý Thủy để tư nhuận; đối với nhiều tháng khác, ưu tiên Hỏa hay Thủy cũng thay đổi theo khí hậu mùa sinh.
Đó là:
Dụng Thần Điều Hậu.
Điều Hậu không đồng nghĩa với Phù Ức
Đây là chỗ rất đáng chú ý.
Giả sử:
Mộc Vượng.
Theo Phù Ức có thể không muốn thêm Hỏa quá mức nếu Hỏa đã đủ.
Nhưng nếu lá số:
Mộc sinh đông lạnh, Thủy nhiều, khí hàn nặng
thì Hỏa lại có một vai trò khác:
ôn ấm toàn cục.
Một hành vì vậy có thể:
không phải lựa chọn đầu tiên theo Phù Ức;
nhưng rất quan trọng theo Điều Hậu.
Ngược lại, hành cân bằng Nhật Chủ rất đẹp nhưng lại làm khí hậu cực đoan hơn thì cũng cần xem lại.
Đây chính là lý do những lá số thật sự khó không thể chỉ xử lý bằng một bảng:
Thân mạnh → dùng gì
Thân yếu → dùng gì.
Dụng Thần Thông Quan
Ở bài trước vềThông Quan, chúng ta đã biết:
khi hai luồng khí mạnh trực tiếp khắc nhau, có thể cần một hành đứng giữa để dẫn khí.
Ví dụ:
Kim ↘ Mộc
Kim mạnh, Mộc cũng có lực.
Hai bên giao chiến.
Nếu có Thủy đủ sức:
Kim → Thủy → Mộc
Kim sinh Thủy.
Thủy sinh Mộc.
Khí từ:
khắc
chuyển sang:
sinh.
Lúc này Thủy có thể trở thành yếu tố then chốt.
Không phải vì:
Thủy ít.
Mà vì:
Thủy giải được nút thắt của toàn cục.
Đây chính là tư duy Dụng Thần theoThông Quan.
Dụng Thần theo Cách Cục
Trở lạiTử Bình Chân Thuyên.
Sách cho rằng việc xem mệnh phải:
trước tiên quan sát Dụng Thần thuộc loại nào
rồi dựa vào đó xem nên:
thuận dụng
hay:
nghịch dụng.
Các nhóm như:
Tài – Quan – Ấn – Thực
thường được nói theo hướng thuận dụng.
Trong khi:
Sát – Thương – Kiếp – Nhận
thường phải xét cơ chế chế hóa thích hợp.
Ví dụ:
Quan
có thể cần:
Tài sinh Quan
hoặc:
Ấn bảo hộ Quan.
Thất Sát
thường phải xét:
Thực Thần chế Sát
hoặc cấu trúc hóa Sát thích hợp.
Thương Quan
có thể cần:
Ấn chế Thương
hoặc:
Thương Quan sinh Tài
tùy cục.
Như vậy ở đây, “Dụng Thần” gắn với:
thành – bại của Cách Cục.
Đây là một tầng khác hẳn việc chỉ cân xem Nhật Chủ mạnh hay yếu.
Cách Cục và Phù Ức có thể cho hai câu trả lời khác nhau không?
Có.
Và đây chính là nguyên nhân khiến người học dễ hoang mang.
Giả sử:
Giáp Mộc sinh tháng Dậu.
Nguyệt Lệnh Dậu là:
Tân Kim Chính Quan.
Theo tư duy Cách Cục:
→ trọng tâm làQuan Cách.
Nhưng nếu:
Quan quá mạnh;
Nhật Chủ Giáp Mộc quá yếu;
có Ấn Thủy ở giữa;
thì trong thực hành Phù Ức:
→Thủycó thể trở thành yếu tố cực kỳ quan trọng vì:
Kim → Thủy → Mộc
vừa hóa lực Quan, vừa sinh thân.
Nếu không nói rõ hệ quy chiếu, một người nói:
“Dụng là Quan.”
Người khác nói:
“Dụng là Ấn.”
Người mới sẽ tưởng một trong hai người chắc chắn sai.
Thực tế phải hỏi:
Người thứ nhất đang nói Dụng Thần lập cách hay Dụng Thần cân bằng?
Đó mới là câu hỏi chính xác.
Hỷ Thần – 喜神 là gì?
Nếu Dụng Thần là yếu tố then chốt được đưa vào sử dụng, thì:
Hỷ Thần
có thể hiểu là:
khí giúp Dụng Thần phát huy tác dụng hoặc giúp cấu trúc đi theo hướng thuận lợi.
TrongĐích Thiên Tủy Xiển Vi, Nhậm Thiết Tiều giải:
Hỷ Thần là thần giúp Dụng, trợ Chủ.
Và ở phần Nhàn Thần, ông nhấn mạnh rằng Hỷ Thần có chức năngphụ trợ cách cục, trợ giúp Dụng Thần, trong khi Kỵ Thần là thứ phá cách hoặc làm tổn hại Dụng Thần.
Có thể hình dung:
Dụng Thần = người làm việc chính.
Hỷ Thần = người giúp việc ấy thành công.
Ví dụ về Hỷ Thần
Giả sử:
Mộc rất Vượng
và chọn:
Hỏa
làm Dụng Thần để tiết Mộc.
Nhưng Hỏa còn yếu.
Nếu Mộc tiếp tục sinh Hỏa:
→ Mộc bản thân có thể trở thành nguồn của Hỏa.
Hoặc trong một cấu trúc khác:
Dụng Thần là:
Thủy
để sinh Mộc.
Kim lại vừa phải và có khả năng:
Kim → sinh Thủy.
Khi ấy Kim có thể đóng vai trò:
Hỷ Thần trợ Dụng.
Nhưng đừng biến thành công thức:
Dụng Thủy → Hỷ luôn luôn là Kim.
Bởi nếu Kim đang quá mạnh và chính Kim là nguồn gây chiến với Mộc, việc thêm Kim có thể làm cục phức tạp hơn.
Hỷ Thần phải được xác định:
trong toàn cục.
Hỷ Thần không nhất thiết chỉ có một
Một mệnh cục có thể có:
một Dụng Thần chính;
một hoặc nhiều khí phụ trợ.
Đích Thiên Tủythậm chí nói khi cân nhắc Thể – Dụng, có trường hợphai hoặc ba Dụng Thần cũng được, miễn phải phân rõ nặng nhẹ, không để thái quá hay bất cập.
Điều này rất đáng nhớ.
Bát Tự không nhất thiết phải ép vào dạng:
“Dụng duy nhất = Hỏa.”
Thực tế có thể là:
Hỏa quan trọng nhất.
Mộc giúp Hỏa.
Thổ có điều kiện mới dùng được.
Kim thì bất lợi.
Quan hệ có tầng bậc.
Kỵ Thần – 忌神 là gì?
Kỵ Thầnlà khí gây bất lợi đối với cấu trúc đang cần bảo vệ.
Nó có thể:
khắc Dụng Thần;
làm Dụng Thần bị hợp;
làm dòng khí bị tắc;
sinh trợ quá mức cho phía đang dư thừa;
phá Cách;
làm vấn đề Điều Hậu nặng hơn.
Đích Thiên Tủy Xiển Vigiải rất trực tiếp:
Kỵ Thần là thứ phá cách, tổn Dụng.
Nhưng cũng cần hiểu:
Kỵ không đồng nghĩa với “Ngũ Hành xấu vĩnh viễn”.
Một hành có thể là Kỵ trong một cấu trúc nhưng thành Hỷ trong cấu trúc khác.
Ví dụ: cùng là Thủy nhưng lúc là Hỷ, lúc là Kỵ
Trường hợp 1
Giáp Mộc yếu.
Kim mạnh.
Có Thủy vừa đủ:
Kim → Thủy → Mộc.
Thủy:
hóa Kim;
sinh Mộc.
→ có thể rất hữu dụng.
Trường hợp 2
Giáp Mộc đã cực Vượng.
Sinh mùa đông.
Thủy lại thành thế.
Tiếp tục thêm Thủy:
→ Mộc càng được sinh.
→ khí càng hàn thấp.
Lúc này Thủy có thể trở thành phía không mong muốn.
Như vậy:
Không có hành nào tự thân là Hỷ hay Kỵ trong mọi lá số.
Vai trò đến từ:
quan hệ.
Hỷ Thần và Dụng Thần khác nhau thế nào?
Có thể tóm tắt:
Khái niệm | Vai trò |
|---|---|
Dụng Thần | Yếu tố then chốt xử lý vấn đề hoặc giữ cấu trúc |
Hỷ Thần | Yếu tố hỗ trợ Dụng Thần hoặc giúp toàn cục thuận hơn |
Kỵ Thần | Yếu tố phá Dụng, phá cách hoặc làm mất cân bằng nặng hơn |
Ví dụ hình tượng:
Mệnh cục giống một căn phòng lạnh.
Hỏalà nguồn sưởi chính.
→ Dụng.
Mộcgiúp Hỏa có nhiên liệu.
→ có thể là Hỷ.
Thủylại làm môi trường lạnh thêm.
→ có thể thành Kỵ.
Nhưng nếu căn phòng đã cháy nóng:
vai trò có thể đảo ngược hoàn toàn.
Hỷ Thần có phải “Tương Thần” không?
Không nên đồng nhất tuyệt đối.
Đây là một điểm khá sâu nhưng đáng đưa vào nếu muốn học Tử Bình cho sạch khái niệm.
TrongTử Bình Chân Thuyêncó khái niệm:
Tương Thần – 相神
Ý tưởng cơ bản:
Cách Cục đã có “chủ”, thì thường cần một khí phụ tá để giúp toàn cục thành cách.
Ví dụ:
Quan gặp Tài sinh:
→ Quan là Dụng, Tài là Tương.
Sát gặp Thực chế:
→ Sát là Dụng, Thực là Tương.
Bản chú giải phổ biến của Từ Nhạc Ngô từng gọiTương Thần cũng là Hỷ Thần, nhưng cách đồng nhất này có tranh luận trong các hệ giải thích về sau; nguyên vănTử Bình Chân Thuyênvẫn có logic riêng của chữ “Tương” gắn với thành cách.
Vì vậy nếu viết kỹ:
Tương Thần và Hỷ Thần có vùng chức năng giao nhau nhưng không nên mặc định là một khái niệm trong mọi hệ thống.
Nhàn Thần là gì?
Ngoài Dụng – Hỷ – Kỵ còn có:
Nhàn Thần – 閒神
tức khí:
không trực tiếp giúp Dụng đáng kể, nhưng cũng chưa làm hại cấu trúc.
Đích Thiên Tủygiải:
ngoài Hỷ và Kỵ, những khí chưa đủ để gọi là Hỷ, cũng chưa đáng gọi là Kỵ thì có thể xem là Nhàn Thần.
Nhưng “Nhàn” không có nghĩa:
vĩnh viễn vô dụng.
Khi Đại Vận – Lưu Niên làm cục thay đổi, một Nhàn Thần có thể trở thành:
cầu nối;
cứu ứng;
hoặc ngược lại bị kéo sang phe Kỵ.
Đây là lý do luận vận phải xem lạiquan hệ động, không chỉ tra bảng Hỷ Kỵ cố định.
Có nên thêm “Cừu Thần” vào hệ thống không?
Trong một số hệ thống hiện đại còn chia:
Cừu Thần – 仇神
thường chỉ khí:
sinh trợ Kỵ Thần hoặc gián tiếp làm Dụng Thần bất lợi.
Ví dụ:
Dụng là Mộc.
Kim là Kỵ vì khắc Mộc.
Thổ sinh Kim.
Trong một cấu trúc nhất định:
→ Thổ có thể bị xếp vào Cừu Thần.
Tuy nhiên cách phân chia:
Dụng – Hỷ – Kỵ – Cừu – Nhàn
không phải lúc nào các trường phái cũng hoàn toàn thống nhất.
Đối với người mới, chỉ cần hiểu thật chắc:
Dụng – Hỷ – Kỵ
trước đã.
Dụng Thần phải có lực mới dùng được
Giả sử xác định:
Thủy cần cho mệnh cục.
Nhưng Thủy:
hoàn toàn vô căn;
không Thấu;
bị Thổ vây khắc;
lại sinh vào thời khô nóng;
không có Kim sinh;
thì câu:
“Dụng Thần là Thủy”
mới chỉ lànhu cầu lý thuyết.
Phải hỏi tiếp:
Thủy có tồn tại không?
Có căn không?
Có lực không?
Có bị phá không?
Đại Vận có đưa Thủy đến được không?
Đây là nơi kiến thức:
Tàng Can – Thấu Can – Thông Căn – Vượng Suy
quay trở lại.
Dụng Thần không thể tách khỏi những bài trước.
Dụng Thần có lực và Dụng Thần hữu tình
Trong phép Cách Cục, cổ thư không chỉ hỏi:
có Dụng hay không.
Mà còn xét:
hữu tình – vô tình
và:
hữu lực – vô lực.
Tử Bình Chân Thuyênđưa nhiều ví dụ trong đó một khí tuy đúng vai trò nhưng phải:
có căn;
có lực;
phối hợp phù hợp;
thì Cách mới thật sự đẹp.
Chẳng hạn sách bàn trường hợp Quan được cứu bởi một khí vừahữu tìnhvừaThông Căn hữu lực, xem đây là tình trạng hoàn chỉnh hơn việc chỉ có quan hệ trên danh nghĩa.
Đây là tư duy rất đáng học:
đúng Dụng nhưng không có lực ≠ Dụng mạnh.
Dụng Thần có thể nằm trong Tàng Can không?
Có.
Không phải Dụng Thần bắt buộc phải nằm trên Thiên Can.
Một khí:
tàng trong Địa Chi
vẫn có thể là yếu tố quan trọng.
Nhưng:
tàng
và:
Thấu
khác nhau.
Nếu Dụng Thần Thấu Can và có căn:
→ nó có đường biểu hiện rõ.
Nếu chỉ tàng sâu:
→ khả năng phát huy còn phải xét hoàn cảnh.
Đến Đại Vận hoặc Lưu Niên:
khí tàng được dẫn động
hoặc:
Dụng Thần được Thấu ra
thì cục có thể xuất hiện biến chuyển.
Không thể chỉ nhìn bốn Thiên Can rồi kết luận:
“Dụng Thần không có trong mệnh.”
Dụng Thần có thể bị hợp mất không?
Có thể bị:
hợp
khắc
xung vào căn
hoặc gặp cấu trúc khiến tác dụng thay đổi.
Ví dụ:
Dụng Thần nằm trên Thiên Can nhưng bị một Can khác hợp.
Không nên lập tức nói:
“hợp là mất.”
Phải xét:
hợp có hóa không;
hóa thành gì;
hai bên có lực không;
Nguyệt Lệnh có ủng hộ hóa không;
sau hợp Dụng còn tác dụng hay bị trói.
Tương tự:
Dụng nằm ở Địa Chi nhưng căn bị xung mạnh.
→ sức của Dụng cũng phải xét lại.
Đây là lý do xác định Dụng Thần không thể tách khỏihợp – xung – hội – hình – phá.
Dụng Thần có thay đổi theo Đại Vận không?
Câu này cần trả lời rất thận trọng.
Nhu cầu cấu trúc của nguyên cục không nên thay đổi tùy tiện mỗi mười năm.
Nếu mệnh cục vốn:
hàn
thì đặc điểm hàn của nguyên cục vẫn tồn tại.
Nếu nguyên cục vốn:
Mộc quá Vượng
thì đó vẫn là nền ban đầu.
Nhưng khi Đại Vận nhập cục, môi trường vận hành thay đổi.
Ví dụ nguyên cục cần Hỏa.
Một Đại Vận đã đưa vào rất nhiều Hỏa.
Đến lúc ấy:
không thể cứ nói “Hỏa là Dụng nên càng nhiều càng tốt”.
Bởi “đủ” và “quá” là hai trạng thái khác nhau.
Vì vậy nên phân biệt:
Dụng của nguyên cục
và:
cách Dụng phát huy trong từng vận.
Vai trò cơ bản có thể giữ, nhưngmức độ cần thiết và cách tương tác thay đổi theo vận.
Gặp Đại Vận Dụng Thần có chắc chắn tốt không?
Không thể kết luận đơn giản như vậy.
Giả sử Dụng Thần là:
Hỏa.
Đại Vận đến Hỏa.
Nhưng vận Hỏa đó đồng thời:
xung mất căn của Nhật Chủ;
hợp mất một khí quan trọng;
dẫn động Tam Hợp thành cục khác;
hoặc khiến Hỏa từ “đủ” thành “quá”.
Kết quả sẽ không đơn giản là:
“Dụng đến = cát.”
Ngược lại, vận có Kỵ xuất hiện nhưng Kỵ:
bị chế;
bị hợp;
bị dẫn đi sinh Dụng;
thì tác dụng cũng có thể thay đổi.
Bát Tự luôn phải đọc:
cả chữ mới đến + quan hệ nó tạo với nguyên cục.
Một Dụng Thần có phải dùng cả đời?
Nếu nói vềđặc điểm nền của nguyên cục, Dụng không nên bị đổi tùy tiện chỉ vì muốn khớp sự kiện.
Nhưng nếu nói về:
ưu tiên điều chỉnh của từng giai đoạn
thì Đại Vận hoàn toàn có thể thay đổi mức độ cần thiết.
Đây là hai khái niệm cần tách.
Sai lầm thường gặp là:
năm tốt thì gọi hành đó Dụng.
năm xấu thì đổi sang hành khác.
Cách luận như vậy làlấy kết quả để sửa lý thuyết, rất khó kiểm chứng.
Cách xác định Dụng Thần: trình tự nên đi như thế nào?
Không có một công thức duy nhất cho mọi trường phái, nhưng có thể xây dựng trình tự phân tích tương đối chặt.
Bước 1: xác định Nhật Chủ
Trước hết biết:
Nhật Chủ là Can gì?
Âm hay Dương?
Thuộc Ngũ Hành nào?
Bước 2: xác định Nguyệt Lệnh
Xem:
mùa khí nào đang nắm quyền?
Không xác định đúng Nguyệt Lệnh thì:
Vượng Suy dễ sai;
Điều Hậu dễ sai;
Cách Cục cũng dễ sai.
Bước 3: mở toàn bộ Tàng Can
Phải biết:
bên dưới bốn Địa Chi thật sự chứa những khí gì.
Đừng chỉ nhìn tám chữ nổi.
Bước 4: xét Thấu Can và Thông Căn
Hỏi:
khí nào đã Thấu?
khí nào có căn?
căn mạnh hay yếu?
khí nào chỉ nổi trên Thiên Can mà vô căn?
Đây là bước xác định:
ai thật sự có lực.
Bước 5: xác định Vượng Suy Nhật Chủ
Xét:
Đắc Lệnh
Đắc Địa
Đắc Thế
so với:
Khắc – Tiết – Hao.
Không đếm Ngũ Hành.
Không cộng điểm máy móc.
Bước 6: xem khí thế toàn cục
Hỏi:
Khí đang đi đâu?
Ví dụ:
Kim → Thủy → Mộc
hay:
Mộc → Hỏa → Thổ
hay:
Kim ↔ Mộc giao chiến.
Đây là chỗ quyết định có cần:
Thông Quan
hay không.
Bước 7: xét hàn – noãn – táo – thấp
Đừng bỏ qua Điều Hậu.
Một mệnh cục có vẻ cân về số lượng nhưng:
quá lạnh
hoặc:
quá nóng
vẫn có thể rất khó vận hành.
Cùng Thông Bảo Giámliên tục thay đổi cách chọn khí theo mùa, cho thấy “đúng Ngũ Hành” còn phải “đúng thời tiết”.
Bước 8: xác định Cách Cục
Nếu theo hệ thống Cách Cục:
Nguyệt Lệnh là gì?
Tàng khí nào Thấu?
Cách có thành không?
đang bị gì phá?
cần yếu tố nào cứu?
Tử Bình Chân Thuyênyêu cầu lấy Nguyệt Lệnh làm chủ rồi mới phối toàn bộ năm – ngày – giờ để xét thành bại.
Bước 9: tìm “bệnh”
Đến đây hỏi:
Điểm nào khiến mệnh cục khó vận hành nhất?
Có thể là:
Nhật Chủ quá yếu;
Nhật Chủ quá Vượng;
Quan Sát quá mạnh;
Tài phá Ấn;
Thương Quan phá Quan;
hai hành giao chiến;
mệnh cục quá lạnh;
khí bị bế;
Dụng bị phá.
Không xác định được bệnh:
→ chưa nên chọn thuốc.
Bước 10: chọn yếu tố then chốt nhất
Lúc này mới bắt đầu nói:
Dụng Thần.
Và phải nói rõ:
Dụng theo phương pháp nào?
Ví dụ:
Cách Cục Dụng: Quan
Phù Ức Dụng: Ấn
Điều Hậu cần: Hỏa
thay vì gom tất cả thành một câu:
“Dụng Thần = Hỏa.”
Cách ghi như vậy chính xác hơn rất nhiều.
Ví dụ tổng hợp: Nhật Chủ Mộc yếu, Kim mạnh
Giả sử:
Giáp Mộc
sinh mùa thu.
Kim đang đắc lệnh.
Giáp có căn nhưng không mạnh.
Trong mệnh lại có Nhâm Thủy.
Ta có:
Kim → khắc Mộc.
Nhưng Nhâm Thủy có thể tạo:
Kim → sinh Thủy → sinh Mộc.
Ở đây Thủy có thể đồng thời:
tiết Kim;
Thông Quan;
sinh Nhật Chủ.
Nếu Thủy:
có căn;
có lực;
không bị Thổ vây khắc;
thì vai trò của Thủy rất quan trọng.
Theo phép Phù Ức – Thông Quan:
→Thủy có thể là Dụng rất đẹp.
Sau đó:
Kim vừa phải có thể:
sinh Thủy
nên trong điều kiện nhất định có thể trợ cho Dụng.
Nhưng nếu Kim đã quá mạnh:
→ thêm Kim chưa chắc là Hỷ.
Đây chính là lý do không được lập bảng:
Dụng Thủy → Hỷ Kim
một cách máy móc.
Ví dụ: Nhật Chủ Mộc quá Vượng
Giả sử:
Giáp Mộc sinh Mão.
Phía dưới:
Dần – Mão – Hợi
phía trên:
Giáp – Ất – Nhâm.
Mộc được:
Nguyệt Lệnh;
nhiều căn;
Thủy sinh;
Tỷ Kiếp trợ.
Mộc quá mạnh.
Lúc ấy tiếp tục thêm:
Thủy – Mộc
có thể làm thân càng Vượng.
Một hướng xử lý có thể là:
Hỏa
để:
Mộc → Hỏa
tiết bớt Mộc khí.
Nếu Hỏa phù hợp toàn cục:
→ Hỏa có thể trở thành Dụng.
Lúc này:
Mộc tuy sinh Hỏa nhưng bản thân Mộc đã quá nhiều.
Do đó không thể đơn giản nói:
“Mộc sinh Dụng nên Mộc là Hỷ.”
Thực tế Mộc có thể vẫn thuộc phía dư thừa.
Đây là ví dụ rất rõ cho thấy:
“sinh Dụng” chưa chắc tự động thành Hỷ.
Ví dụ: Vượng Suy ổn nhưng khí quá lạnh
Giả sử:
Mộc có căn.
Thủy vừa đủ.
Kim không quá mạnh.
Xét Vượng Suy không có gì cực đoan.
Nhưng toàn cục sinh giữa mùa đông:
Hợi;
Tý;
Sửu;
Thủy khí lạnh;
không thấy Hỏa.
Lúc này vấn đề lớn nhất có thể không phải:
“Mộc mạnh hay yếu?”
mà là:
toàn cục thiếu nhiệt để sinh hóa.
Hỏa khi ấy có thể trở thành:
Điều Hậu chi Dụng.
Đây là tầng mà phép Phù Ức đơn thuần rất dễ bỏ sót.
Dụng Thần có nhất thiết là Ngũ Hành không?
Trong cách diễn giải phổ thông, người ta thường nói:
Dụng Thần là Mộc/Hỏa/Thổ/Kim/Thủy.
Cách nói này tiện.
Nhưng khi luận sâu hơn nên xác định đến:
Thiên Can
Địa Chi
hoặc:
Thập Thần.
Ví dụ:
“Dụng Hỏa”
vẫn còn rất rộng.
Bính Hỏa và Đinh Hỏa:
âm dương khác;
tính chất biểu tượng khác;
quan hệ hợp Can khác.
Tỵ Hỏa và Ngọ Hỏa:
Tàng Can khác;
quan hệ hội – hợp – xung khác.
Vì vậy khi đi sâu tới vận hạn:
“Hỷ Hỏa” không có nghĩa Tỵ – Ngọ – Bính – Đinh đều tạo hiệu quả giống nhau.
Đó mới là Bát Tự thực tế.
Dụng Thần và Hỷ Kỵ phải phân Thiên Can – Địa Chi
Đây là tầng rất quan trọng khi xem Đại Vận.
Giả sử:
Mộc là Hỷ.
Nhưng vận:
Giáp Thân
Thiên Can Giáp Mộc có thể trợ thân.
Trong khi:
Địa Chi Thân lại xung Dần hoặc tăng Kim.
Một Đại Vận có thể:
Can Hỷ – Chi Kỵ
hoặc ngược lại.
Tử Bình Chân Thuyêncũng dành riêng phần bànHỷ Kỵ của Can và Chi, cho thấy không thể gom cả một Đại Vận thành một nhãn Ngũ Hành duy nhất.
Do đó câu:
“Vận này hành Mộc nên tốt”
vẫn quá đơn giản.
Kỵ Thần có phải cứ xuất hiện là hung?
Không.
Giả sử Kỵ Thần là Kim.
Nhưng Kim đến lại:
bị Hỏa chế
hoặc:
sinh Thủy Dụng Thần
hoặc:
bị hợp hóa sang một thế khác.
Khi đó tác dụng thực tế phải xem lại.
NgayĐích Thiên Tủykhi bàn Hợp cũng nhấn mạnh rằng:
có hợp giúp Hỷ;
có hợp kéo mất Hỷ;
có hợp loại bỏ khí xấu;
có hợp lại tăng lực khí xấu.
Không thể nói:
hợp = tốt
hay:
hợp = xấu
một chiều.
Kỵ Thần cũng như vậy.
Vì sao có người nói Dụng Thần “không có trong lá số”?
Điều này hoàn toàn có thể xảy ra.
Ví dụ mệnh cục rất cần:
Thủy
để Thông Quan.
Nhưng nguyên cục:
không thấy Thủy đủ lực.
Khi đó có thể nói:
nguyên cục thiếu yếu tố cứu ứng cần thiết.
Đại Vận hoặc Lưu Niên đưa Thủy đến:
→ nút thắt có cơ hội được mở.
Nhưng vẫn phải kiểm tra:
Thủy có căn không?
có bị hợp phá không?
có thật sự đủ lực không?
Dụng xuất hiện không đồng nghĩa tự động phát huy hoàn toàn.
Có phải Dụng Thần càng nhiều càng tốt?
Không.
Nếu một hành cần ở mức:
vừa đủ
thì quá mức vẫn thành vấn đề.
Ví dụ:
mệnh cục lạnh cần Hỏa.
Một ít Hỏa:
→ ôn ấm.
Quá nhiều Hỏa:
→ có thể chuyển thành khô nóng.
Do đó trong Bát Tự:
“cần” không đồng nghĩa với “càng nhiều càng tốt”.
Điểm cuối cùng vẫn là:
đắc kỳ nghi – được đúng mức thích hợp.
Tinh thần này cũng xuyên suốtĐích Thiên Tủy: phải điều chỉnh sao cho không rơi vàothái quá hoặc bất cập.
Dụng Thần không phải vật phẩm phong thủy
Đây là điều rất đáng nói rõ.
Ví dụ xác định:
Thủy là Dụng.
Điều đó không tự động chứng minh rằng:
mặc màu đen sẽ đổi vận;
đặt bể cá sẽ giải mệnh;
đeo đá “hành Thủy” sẽ tăng Dụng;
chọn mọi thứ liên quan đến Thủy đều tốt.
Dụng Thần trước hết là:
một khái niệm trong mô hình sinh khắc của Bát Tự.
Việc mở rộng nó sang:
màu sắc;
nghề nghiệp;
phương hướng;
vật phẩm;
tên gọi;
là tầng ứng dụng khác.
Không nên đảo ngược rồi lấy vật phẩm làm bản chất của Dụng Thần.
Công cụ có thể giúp gì khi khảo sát Dụng Thần?
Dụng Thần không thể đọc chính xác nếu ngày – giờ – tháng tiết khí và Tứ Trụ ban đầu đã sai.
Trước tiên cần có:
Thiên Can;
Địa Chi;
Tàng Can;
Thập Thần;
Đại Vận;
Lưu Niên;
được lập đúng theo dữ liệu sinh.
Bạn cũng có thể sử dụng công cụLập lá số Bát Tự (八字)để tiếp tục khảo sát vận hạn ở tầng cá nhân.
Khi đã có lá số, thay vì lập tức tìm dòng:
“Dụng Thần: Hỏa”
hãy tự kiểm tra theo thứ tự:
Nguyệt Lệnh → Tàng Can → Thấu Can → Thông Căn → Vượng Suy → Khí Thế → Điều Hậu → Cách Cục → Hỷ Kỵ.
Chính quá trình này mới giúp bạn hiểuvì saomột khí được dùng.
Những lỗi thường gặp khi xác định Dụng Thần
Thấy thiếu hành nào thì lấy hành đó
Sai ngay từ nền.
Thiếuvàcầnkhông giống nhau.
Thân Nhược thì luôn lấy Ấn
Không đúng với:
Tòng Cách;
một số cấu trúc Cách Cục;
trường hợp Điều Hậu cấp thiết;
trường hợp Ấn bản thân gây bế khí.
Thân Vượng thì luôn dùng Quan Sát
Không.
Có thể dùng:
Thực Thương để tiết;
Tài để hao;
Quan Sát để chế;
nhưng phải xem toàn cục.
Dụng Thần là hành tốt tuyệt đối
Không có hành tốt tuyệt đối.
Vai trò thay đổi theo cấu trúc.
Gặp năm Dụng Thần chắc chắn tốt
Không thể chỉ nhìn một chữ.
Phải xét:
Can;
Chi;
hợp;
xung;
hội;
căn;
khí thế;
Đại Vận đang đứng ở đâu.
Dụng Thần không có trong nguyên cục thì lá số “xấu”
Không thể kết luận như vậy.
Còn phải xem:
Cách có thành không;
khí có lưu thông không;
Đại Vận có cứu không;
nguyên cục có thật sự cần yếu tố ấy tới mức nào.
Một lá số chỉ được phép có một Dụng Thần
Không nhất thiết.
Đích Thiên Tủythừa nhận có thể có hơn một yếu tố được sử dụng, nhưng phải phân rõ chính – phụ và nặng – nhẹ.
Đồng nhất Dụng Thần với Hỷ Thần
Không nên.
Dụng là:
cái cần sử dụng chính.
Hỷ là:
cái giúp Dụng hoặc giúp cấu trúc thuận lợi.
Đồng nhất Hỷ Thần với Tương Thần
Trong một số bản chú giải có cách dùng gần nhau, nhưng nếu họcTử Bình Chân Thuyênsâu thì nên giữ riêng khái niệmTương Thần – khí giúp thành cách.
Một cách nhớ rất dễ: Dụng – Hỷ – Kỵ
Hãy hình dung một thành trì.
Dụng Thần
là:
người giải quyết vấn đề chính.
Hỷ Thần
là:
viện quân giúp người đó làm việc.
Kỵ Thần
là:
lực phá công việc hoặc giúp phe đối diện.
Nhàn Thần
là:
người chưa trực tiếp đứng về bên nào.
Nhưng khi chiến trường thay đổi:
Nhàn có thể thành trợ.
Trợ có thể bị kéo sang phe khác.
Đó chính là lý do Đại Vận – Lưu Niên làm Bát Tự trở thành một hệ thống động.
Cách đọc Dụng Thần chuyên sâu hơn: đừng hỏi “hành gì” trước
Thay vì mở lá số rồi hỏi:
Dụng Thần của tôi là gì?
hãy đổi thành chuỗi câu hỏi:
Nhật Chủ có bao nhiêu lực?
Nguyệt Lệnh đang nắm khí gì?
Khí nào có căn?
Khí nào Thấu?
Toàn cục đang sinh hóa hay giao chiến?
Có quá hàn, quá nhiệt, quá táo, quá thấp không?
Cách Cục nằm ở đâu?
Cái gì đang phá cách?
Cái gì đang làm khí bị tắc?
Nếu bỏ một hành đi, mệnh cục hỏng ở đâu?
Nếu thêm một hành vào, nút thắt nào được mở?
Câu cuối cùng đặc biệt quan trọng.
Bởi Dụng Thần thật sự thường nằm ở chỗ:
“Không có nó thì cục khó vận hành; có đúng nó thì cấu trúc được mở.”
Đó là tầng sâu hơn rất nhiều so với:
“Mệnh thiếu gì?”
Vậy cuối cùng nên dùng hệ thống Dụng Thần nào?
Nếu đang xây nền Bát Tự, tôi đề xuất không chọn phe quá sớm.
Hãy học theo thứ tự:
1. Nguyệt Lệnh và Cách Cục
để hiểu truyền thốngTử Bình Chân Thuyên.
2. Vượng Suy – Phù Ức
để hiểu thực lực Nhật Chủ.
3. Điều Hậu
để không bỏ qua khí hậu mùa sinh.
4. Thông Quan
để hiểu dòng khí và giao chiến.
Sau đó mới đặt chúng cạnh nhau.
Có những mệnh:
Cách Cục – Phù Ức – Điều Hậu cùng chỉ về một hành.
Đây là tình trạng rất rõ.
Nhưng cũng có mệnh:
Cách cần một thứ, Điều Hậu cần một thứ khác.
Lúc ấy mới cần phân:
cái nào cấp thiết?
cái nào trước?
cái nào sau?
có thể dùng một hành giải hai vấn đề cùng lúc không?
Đây mới thực sự là phần thú vị của Bát Tự.
Kết luận: Dụng Thần không nằm ở hành thiếu, mà nằm ở vấn đề cần giải quyết
Nếu chỉ nhớ một điều sau bài này, hãy nhớ câu:
Đừng tìm Dụng Thần trước khi biết mệnh cục đang cần giải quyết điều gì.
Dụng Thần không phải đáp án có thể lấy từ:
bảng Ngũ Hành thiếu.
Cũng không phải:
cứ Thân Vượng thì Quan, Thân Nhược thì Ấn.
Muốn xác định Dụng Thần phải đi qua:
Nguyệt Lệnh
↓
Tàng Can
↓
Thấu Can
↓
Thông Căn
↓
Vượng Suy
↓
Khí Lưu Thông
↓
Điều Hậu
↓
Cách Cục
↓
Bệnh của mệnh
↓
Dụng – Hỷ – Kỵ.
TrongTử Bình Chân Thuyên, Dụng Thần được đặt trọng tâm vàoNguyệt Lệnh và Cách Cục.
TrongĐích Thiên Tủy, việc dùng khí lại được nhìn linh hoạt hơn: phải cân nhắcThể – Dụng, phù – ức đúng lúc và chọn yếu tố thật sự quan trọng, không để thái quá hay bất cập.
Còn khi bàn Hỷ – Kỵ,Đích Thiên Tủy Xiển Vicho một trục rất dễ nhớ:
Hỷ giúp Dụng. Kỵ phá Dụng.
Nhưng cái khó không nằm ở việc thuộc ba câu đó.
Cái khó là nhìn một mệnh cục và biết:
Ai mới thật sự là Dụng?
Ai đang giúp Dụng?
Ai đang phá Dụng?
Và thứ tưởng là tốt có đang làm mệnh cục quá mức hay không?
Đó là lúc người học không còn hỏi:
“Tôi thiếu hành gì?”
mà bắt đầu hỏi:
“Khí của mệnh đang mắc ở đâu?”
Và một khi nhìn đượcchỗ mắc, Dụng Thần mới thật sự hiện ra.
Câu hỏi thường gặp về Dụng Thần – Hỷ Thần – Kỵ Thần
Dụng Thần là gì?
Dụng Thần là yếu tố được đưa vào vai trò then chốt trong việc duy trì, điều chỉnh hoặc hoàn thiện cấu trúc mệnh cục. Ý nghĩa cụ thể phụ thuộc phương pháp luận đang dùng.
Dụng Thần có phải hành thiếu không?
Không. Hành thiếu chưa chắc cần; hành đã có vẫn có thể là Dụng.
Hỷ Thần là gì?
Hỷ Thần là khí hỗ trợ Dụng Thần hoặc giúp cấu trúc mệnh cục vận hành thuận lợi hơn.
Kỵ Thần là gì?
Kỵ Thần là khí gây tổn hại Dụng, phá Cách hoặc làm thế mất cân bằng nặng thêm.
Dụng Thần và Hỷ Thần có giống nhau không?
Không hoàn toàn. Dụng thường giữ vai trò chính; Hỷ trợ cho Dụng hoặc trợ cho toàn cục.
Tương Thần và Hỷ Thần có giống nhau không?
Không nên đồng nhất tuyệt đối. Tương Thần trong phép Cách Cục nhấn mạnh yếu tố giúp toàn cục thành cách.
Dụng Thần có thể nằm trong Tàng Can không?
Có. Tuy nhiên cần xét nó có Thấu, có căn và có đủ lực hay không.
Dụng Thần có thể có hai hành không?
Có thể có nhiều yếu tố hữu dụng ở những mức độ khác nhau. Quan trọng là phân chính – phụ và thứ tự ưu tiên.
Dụng Thần có thay đổi theo Đại Vận không?
Nhu cầu cấu trúc của nguyên cục không nên đổi tùy tiện, nhưng mức độ phát huy và ưu tiên của từng khí có thể thay đổi khi Đại Vận nhập cục.
Gặp Đại Vận Dụng Thần chắc chắn tốt không?
Không. Còn phải xét Can – Chi của vận đó tạo ra hợp, xung, hội, sinh, khắc gì với nguyên cục.
Thân Nhược thì Dụng Thần luôn là Ấn – Tỷ phải không?
Không. Đây chỉ là nguyên tắc phổ biến trong Phù Ức; Tòng Cách, Điều Hậu và Cách Cục có thể yêu cầu cách nhìn khác.
Thân Vượng thì Dụng Thần luôn là Quan Sát phải không?
Không. Có thể xét Thực Thương, Tài hoặc Quan Sát tùy cấu trúc và khí thế.
Điều Hậu Dụng Thần là gì?
Là yếu tố được ưu tiên để xử lý hàn – noãn – táo – thấp của mệnh cục, chẳng hạn Hỏa làm ấm một cấu trúc quá hàn hoặc Thủy nhuận một cấu trúc quá táo.
Dụng Thần Thông Quan là gì?
Là khí đứng giữa hai hành đang giao chiến, giúp chuyển quan hệ khắc thành đường sinh hóa, ví dụ dùng Thủy nối Kim và Mộc.
Có thể xác định Dụng Thần chỉ bằng phần mềm không?
Phần mềm có thể tính Can Chi, Tàng Can, Thập Thần, Vượng Suy theo thuật toán và hỗ trợ khảo sát. Tuy nhiên kết luận Dụng Thần còn phụ thuộc hệ phương pháp, Cách Cục, khí thế, Điều Hậu và cách giải thích mệnh cục; vì vậy cần biết phần mềm đang sử dụng mô hình nào.
Sau Dụng Thần nên học bài gì?
Nên đi tiếp vào:
“Cách Cục Bát Tự là gì? Chính Quan, Thất Sát, Tài, Ấn, Thực Thần và Thương Quan cách được xác định thế nào?”
Đây là bước cần thiết để hiểu sâu hơn vì saoDụng Thần của Tử Bình Chân Thuyên không thể tách khỏi Nguyệt Lệnh và thành – bại của Cách Cục.