VƯỢNG SUY NHẬT CHỦ LÀ GÌ? CÁCH XÁC ĐỊNH THÂN VƯỢNG – THÂN NHƯỢC, KHUYẾT HÃM TRONG BÁT TỰ
Có một cách xem Bát Tự rất phổ biến:
Lá số có ba Mộc, hai Thủy, một Hỏa… vậy Mộc nhiều nên Nhật Chủ chắc mạnh.
Nghe có vẻ hợp lý.
Nhưng nếu học sâu hơn một chút, bạn sẽ nhận ra đây cũng là một trong những con đường ngắn nhất dẫn tới kết luận sai.
Bởisố lượng không phải sức mạnh.
Một chữ Mộc đắc Nguyệt Lệnh, có căn sâu phía dưới và được Thủy sinh trợ có thể mang khí lực hoàn toàn khác ba chữ Mộc thất thời, vô căn, lại bị Kim vây khắc.
Đó là lý do trong Bát Tự có một cửa rất quan trọng:
Vượng – Suy của Nhật Chủ.
Trongtrường phái Bát tựcó câu:
“Năng tri suy vượng chi chân cơ, kỳ ư Tam Mệnh chi áo, tư quá bán hỹ.”
Ý chính là: nếu hiểu được cơ chế thật sự của suy – vượng thì đã nắm được một phần rất lớn cái khó của phép luận mệnh.
Nhưng cái khó nằm ở hai chữ:
“chân cơ” – cơ chế thật.
Không phải cứ sinh đúng mùa là mạnh.
Không phải cứ nhiều Tỷ Kiếp là mạnh.
Không phải cứ có căn là mạnh.
Càng không phải lấy tám chữ ra rồi cộng trừ theo một bảng điểm cố định.
Muốn xác định đúngThân Vượng – Thân Nhược, phải nhìn Nhật Chủ trong cả một hệ thống:
thời – địa – thế – căn – nguồn sinh – đường tiết – lực khắc – khí thế toàn cục.
Nhật Chủ là gì?
Trong Bát Tự có bốn trụ:
Năm – Tháng – Ngày – Giờ
Mỗi trụ gồm một Thiên Can và một Địa Chi.
Thiên Can của trụ ngày được gọi là:
Nhật Can – 日干
hay thường gọi:
Nhật Chủ – 日主
Nhật Nguyên – 日元
Ví dụ:
Canh Thìn – Mậu Dần – Giáp Tý – Bính Dần
Thiên Can ngày là:
Giáp 甲
→ Nhật Chủ làGiáp Mộc.
Từ Giáp Mộc này, các Can Chi còn lại mới được chuyển thành:
Tỷ Kiên;
Kiếp Tài;
Thực Thần;
Thương Quan;
Chính Tài;
Thiên Tài;
Chính Quan;
Thất Sát;
Chính Ấn;
Thiên Ấn.
Vì vậy Nhật Chủ giống nhưđiểm quy chiếu trung tâmcủa hệ thống Thập Thần.
Nhưng “trung tâm” không có nghĩa là mạnh nhất.
Việc tiếp theo phải hỏi là:
Nhật Chủ này đứng trong toàn mệnh với bao nhiêu thực lực?
Đó chính là vấn đề Vượng – Suy.
Thân Vượng – Thân Nhược nghĩa là gì?
Trong cách nói phổ biến hiện nay:
Thân Vượng / Thân Cườngchỉ Nhật Chủ có lực tương đối mạnh trong mệnh cục.
Thân Nhược / Thân Nhượcchỉ Nhật Chủ tương đối yếu trước tổng thể những lực sinh – khắc – tiết – hao xung quanh.
Chữ“Thân”ở đây chủ yếu chỉ Nhật Chủ trong hệ thống luận mệnh.
Nó không có nghĩa:
Thân Vượng = cơ thể khỏe mạnh.
Cũng không có nghĩa:
Thân Nhược = tính cách yếu đuối.
Một người được xếp “Thân Nhược” trong một phương pháp luận Bát Tự không vì thế mà có thể kết luận họ nhút nhát, thiếu ý chí hay sức khỏe kém.
Đó là hai tầng vấn đề hoàn toàn khác nhau.
Vượng – Suy và Cường – Nhược thực ra không hoàn toàn giống nhau
Đây là điểm rất đáng học kỹ.
Trong thực hành hiện đại, người ta thường dùng:
vượng – cường
và
suy – nhược
gần như cùng nghĩa.
Nhưng trong chú giảiTử Bình Chân Thuyên, hai cặp khái niệm được phân tách tinh tế hơn:
Đắc thời là Vượng, thất thời là Suy; đảng chúng thì Cường, trợ ít thì Nhược.
Nói dễ hiểu:
Vượng – Suy
nhấn vào:
thời khí, mùa khí, Nguyệt Lệnh.
Cường – Nhược
nhấn vào:
lực lượng thực tế mà một hành tập hợp được trong toàn mệnh.
Do đó mới xuất hiện hai trường hợp tưởng như nghịch lý:
Đắc thời nhưng chưa chắc Cường.
và:
Thất thời nhưng chưa chắc Nhược.
Tử Bình Chân Thuyênthậm chí có hẳn một chương mang tên:
“Luận Thập Can đắc thời bất vượng, thất thời bất nhược.”
Tức:
Được thời chưa chắc mạnh, mất thời chưa chắc yếu.
Đây là chìa khóa quan trọng để thoát khỏi kiểu luận Bát Tự một chiều.
Vì sao Nguyệt Lệnh quan trọng nhất khi xét Vượng Suy?
Muốn xét Nhật Chủ, trước tiên phải xem:
sinh vào mùa nào?
Trong Bát Tự, mùa khí được phản ánh tập trung qua:
Nguyệt Lệnh – 月令
tức Địa Chi của trụ tháng.
Bát tựgọi Nguyệt Lệnh là“đề cương”của mệnh cục – đầu mối rất quan trọng để xét khí thời tiết.
Ví dụ:
Mộc
được thời mạnh nhất vào xuân:
Dần – Mão
Hỏa
đương khí vào hạ:
Tỵ – Ngọ
Kim
đương khí vào thu:
Thân – Dậu
Thủy
đương khí vào đông:
Hợi – Tý
Còn:
Thìn – Tuất – Sửu – Mùi
là bốn tháng Thổ có cấu trúc khí phức tạp hơn, không nên chỉ dùng công thức “Thổ tháng nào cũng giống nhau”.
Điều quan trọng hơn:
Tháng trong Bát Tự được xác định theo tiết khí, không lấy ngày mùng Một âm lịch làm điểm đổi tháng.
Ví dụ:
Lập Xuân → vào tháng Dần.
Kinh Trập → vào tháng Mão.
Thanh Minh → vào tháng Thìn.
Người sinh gần thời điểm giao tiết phải xét chính xác thời điểm giao tiết, vì Nguyệt Chi có thể thay đổi và kéo theo toàn bộ cách xét Nguyệt Lệnh.
Đắc Lệnh là gì?
Đắc Lệnh – 得令
là khi Nhật Chủ nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ thời khí của Nguyệt Lệnh.
Ví dụ đơn giản:
Giáp – Ất Mộc sinh Dần, Mão
→ Mộc gặp mùa xuân.
Canh – Tân Kim sinh Thân, Dậu
→ Kim gặp mùa thu.
Đây là lợi thế rất lớn.
Nhưng hãy nhớ:
Đắc Lệnh chỉ là điểm xuất phát, không phải phán quyết cuối cùng.
Một cây sinh đúng mùa xuân nhưng bị dao rìu chặt liên tục vẫn có thể bị thương.
Một cây sinh vào mùa thu nhưng có bộ rễ rất sâu, nhiều nước nuôi dưỡng và cả khu rừng đồng loại bao quanh vẫn không thể gọi là yếu một cách máy móc.
Đó chính là điềuTử Bình Chân Thuyênnhấn mạnh khi nói:
Bát Tự tuy lấy Nguyệt Lệnh làm trọng, nhưng năm – ngày – giờ vẫn có quyền tăng giảm sức khí.
Đắc Lệnh không đồng nghĩa với Thân Vượng
Đây là lỗi số một.
Giả sử:
Giáp Mộc sinh tháng Mão.
Rõ ràng Mộc đắc mùa.
Nếu dừng ở đây và kết luận:
“Giáp Mộc Thân Vượng.”
thì quá sớm.
Ta còn phải hỏi:
Mộc có căn ở các Chi khác không?
Nguyệt Chi Mão có bị xung phá mạnh không?
Thiên Can có Canh – Tân Kim vây khắc không?
Địa Chi có Thân – Dậu Kim thành thế không?
Hỏa có quá mạnh làm Mộc tiết khí không?
Thổ có quá dày làm Mộc phải tiêu hao không?
Thủy có sinh Mộc không?
Tỷ Kiếp có trợ không?
Chỉ sau khi xem tất cả những điều này mới biết:
Mộc chỉ “được mùa”
hay:
Mộc thực sự “thành thế”.
Đây là hai chuyện khác nhau.
Mất Nguyệt Lệnh cũng chưa chắc Thân Nhược
Ngược lại:
Giáp Mộc sinh tháng Dậu
Kim đương mùa, Mộc rõ ràng thất thời.
Nhưng giả sử phía dưới lại có:
Dần – Mão – Hợi
phía trên lại có:
Giáp – Ất – Nhâm – Quý
thì sao?
Mộc có:
căn;
đồng đảng;
Thủy sinh;
nhiều nơi nương tựa.
Trong trường hợp như vậy, không thể chỉ thấy chữ Dậu rồi phán:
“Mộc thất lệnh nên Thân Nhược.”
Tử Bình Chân Thuyênđưa chính nguyên lý này:
Thu Mộc tuy suy, nhưng nếu Mộc căn sâu thì vẫn có thể mạnh.
Đó chính là:
thất thời bất nhược.
Sau Đắc Lệnh phải xét Đắc Địa
Nếu Nguyệt Lệnh làthời, thì Địa Chi chính làđất.
Một Thiên Can muốn có thực lực thường phải hỏi:
Có gốc hay không?
Đây chính là kiến thứcThông Căn.
Ví dụ:
Giáp 甲
gặp:
Dần 寅
Dần tàng:
Giáp – Bính – Mậu
→ Giáp có căn trực tiếp.
Hoặc:
Giáp gặp Hợi
Hợi tàng:
Nhâm – Giáp
→ Giáp cũng có căn.
Một Can có căn giống như cây đã cắm rễ xuống đất.
Một Can không căn lại giống cành cây bị cắt rời, dù có xuất hiện rất rõ phía trên nhưng khả năng duy trì khí lực không giống nhau.
Tử Bình Chân Thuyêncó một hình ảnh rất hay:
Tỷ Kiếp giống bạn bè trợ giúp, còn Thông Căn giống có nhà để ở.
Vì vậy chú giải thậm chí cho rằng nhiều Can đồng loại trên trời chưa chắc bằng một căn khí thực sự dưới đất.
Có căn chưa đủ, phải xem căn mạnh hay căn yếu
Không phải mọi căn đều bằng nhau.
Ví dụ Giáp Mộc:
Gặp Dần
Dần tàng Giáp làm Bản khí.
→ căn rõ và trực tiếp.
Gặp Mão
Mão thuộc Mộc chuyên khí.
→ Mộc khí rất rõ.
Gặp Hợi
Hợi tàng Nhâm – Giáp.
→ Giáp có căn nhưng cấu trúc khác Dần, Mão.
Gặp Thìn
Thìn chứa Ất Mộc dư khí.
→ vẫn có Mộc khí nhưng không thể đánh đồng với một gốc Dần – Mão.
Do đó sau câu:
“Nhật Chủ có căn.”
phải hỏi tiếp:
Căn gì?
Nằm ở đâu?
Đắc mùa hay thất mùa?
Có bị xung phá không?
Có hội thành thế không?
Đây mới làĐắc Địatheo nghĩa thực hành.
Đắc Thế là gì?
Một cây không chỉ cần đúng mùa và có rễ.
Nó còn cần nhìn:
xung quanh đang đứng cùng phe với ai?
Đó là ý của:
Đắc Thế – 得勢
hay:
đảng chúng – 党众.
Đối với Nhật Chủ, những lực thường trực tiếp giúp thân gồm:
Tỷ Kiên – Kiếp Tài
cùng loại Ngũ Hành với Nhật Chủ.
Chính Ấn – Thiên Ấn
Ngũ Hành sinh Nhật Chủ.
Ví dụ Nhật Chủ là:
Giáp Mộc
thì:
Giáp – Ất – Dần – Mão
thuộc nhóm Mộc trợ thân.
Nhâm – Quý – Hợi – Tý
thuộc Thủy sinh Mộc.
Nếu toàn cục phần lớn đều nghiêng về:
Thủy → Mộc
thì Nhật Chủ dễ hình thành thế lực mạnh dù chưa chắc đang đúng tháng Mộc.
Đó là:
được thế.
Những lực nào làm Nhật Chủ giảm lực?
Bên kia cán cân là ba hướng:
Khắc
Quan – Sát
Ngũ Hành khắc Nhật Chủ.
Ví dụ Giáp Mộc gặp Canh – Tân Kim.
Tiết
Thực Thần – Thương Quan
Nhật Chủ sinh ra chúng.
Ví dụ:
Mộc sinh Hỏa.
Mộc phải xuất khí để sinh Hỏa.
Hao
Tài Tinh
Nhật Chủ khắc Tài nên cũng phải tiêu hao sức để chế Tài.
Ví dụ:
Mộc khắc Thổ.
Thổ nhiều cũng làm Mộc phải bỏ lực để khắc chế.
Có thể hình dung tổng quát:
Lực đối với Nhật Chủ | Thập Thần thường liên quan |
|---|---|
Sinh Nhật Chủ | Chính Ấn – Thiên Ấn |
Trợ Nhật Chủ | Tỷ Kiên – Kiếp Tài |
Nhật Chủ tiết ra | Thực Thần – Thương Quan |
Nhật Chủ phải khắc | Chính Tài – Thiên Tài |
Khắc Nhật Chủ | Chính Quan – Thất Sát |
Nhưng tuyệt đối không biến bảng này thành:
mỗi chữ +1 hoặc -1.
Một Thất Sát có căn, đắc lệnh và thành cục hoàn toàn không giống một Thất Sát vô căn.
Một Ấn Tinh thất mùa, bị Tài phá cũng không thể tính ngang một Ấn đắc lệnh, Thông Căn.
Vì sao đếm số lượng Ngũ Hành thường sai?
Giả sử một lá số có:
3 Mộc – 2 Kim – 1 Thủy – 1 Hỏa – 1 Thổ.
Có thể kết luận Mộc mạnh nhất không?
Chưa chắc.
Ba chữ Mộc có thể:
đều nằm trên Thiên Can;
không có căn;
sinh vào mùa thu;
bị Kim đương lệnh khắc.
Trong khi hai chữ Kim:
một nằm Nguyệt Lệnh Dậu;
một Thông Căn tại Thân;
lại được Thổ sinh.
Vậy thì:
3 chưa chắc thắng 2.
Bát Tự không phải bài toán đếm quân.
Điều phải nhìn là:
quân nào đang giữ địa hình, đúng thời, có hậu phương và có đường tiếp viện.
Đắc Lệnh – Đắc Địa – Đắc Thế: ba tầng phải đọc cùng nhau
Đây là bộ khung rất hữu ích để người học không bị lạc.
Đắc Lệnh
Nhật Chủ có thuận mùa khí không?
Đắc Địa
Nhật Chủ có căn, có nơi đứng trong Địa Chi không?
Đắc Thế
Nhật Chủ có đồng đảng và nguồn sinh trợ đủ mạnh không?
Sau đó mới đem so với:
khắc – tiết – hao
đang tác động lên thân.
Có thể hình dung:
Thực lực Nhật Chủ
≈
Thời + Căn + Sinh trợ + Đồng đảng
so với
Khắc + Tiết + Hao + Phá tổn
Nhưng dấu “≈” ở đây chỉ để minh họa tư duy.
Đừng biến nó thành công thức toán học cứng.
Không nên gán 40% – 30% – 30% cho Đắc Lệnh, Đắc Địa và Đắc Thế
Trên mạng hiện nay có rất nhiều bảng:
Nguyệt Lệnh 40%
Địa Chi 30%
Thiên Can 30%
hoặc:
50 – 30 – 20
Những con số này có thể hữu ích cho một phần mềm hoặc phương pháp riêng, nhưng không nên coi đó là định luật cổ điển của Bát Tự.
Bởi cùng một Nguyệt Lệnh nhưng:
bị xung;
hội cục;
Thấu Can;
có hay không có căn;
khí có lưu thông hay không;
thì kết quả không giống nhau.
Cổ pháp nhấn mạnh:
phải “hoạt khán” – nhìn sống, không nhìn chết.
Tử Bình Chân Thuyêngọi việc cứ “đắc thời là vượng, thất thời là suy” mà không xét tiếp làtử pháp – phép chết.
Bước 1: xác định Nhật Chủ
Đầu tiên lấy Thiên Can ngày.
Ví dụ:
甲 → Giáp Mộc
丙 → Bính Hỏa
戊 → Mậu Thổ
庚 → Canh Kim
壬 → Nhâm Thủy
Đây là trung tâm để xét.
Bước 2: xem Nguyệt Lệnh
Hỏi:
Nhật Chủ đang sinh vào thời nào?
Ví dụ:
Giáp Mộc sinh tháng Dần, Mão:
→ được mùa Mộc.
Giáp Mộc sinh tháng Thân, Dậu:
→ Mộc không nắm thời khí.
Nhưng chỉ đánh dấu:
đắc lệnh / thất lệnh
chứ chưa kết luận Thân Vượng hay Nhược.
Bước 3: mở toàn bộ Tàng Can
Đây chính là lý do bàiTàng Canphải học trước Vượng Suy.
Bốn Địa Chi phải được mở ra để biết bên trong:
Nhật Chủ có căn không?
Ấn có nguồn không?
Quan Sát có thực lực không?
Tài có chỉ lộ trên trời hay đã bén rễ xuống đất?
Nếu không mở Tàng Can, phần đánh giá lực của mệnh cục sẽ bị thiếu.
Bước 4: kiểm tra Thông Căn
Tìm xem Nhật Chủ có:
Bản khí căn;
căn mạnh;
căn phụ;
dư khí;
Mộ Khố liên quan;
hay hoàn toàn không có căn.
Sau đó xem căn:
gần hay xa
đắc thời hay thất thời
có bị xung phá không
có được hội thành thế không.
Đây là bước phân biệt:
“có chữ”
với:
“có lực”.
Bước 5: xem Ấn Tinh có thật sự sinh thân không
Người mới thường thấy:
Ấn = sinh thân
rồi cộng ngay sức cho Nhật Chủ.
Nhưng vẫn phải hỏi:
Ấn có căn không?
Ấn có đắc lệnh không?
Có bị Tài khắc không?
Có bị hợp mất tác dụng không?
Có đứng ở vị trí có thể sinh tới Nhật Chủ không?
Toàn cục có đang cho dòng khí đi theo hướng đó không?
Ví dụ lý tưởng:
Kim → Thủy → Mộc
nếu Nhật Chủ là Mộc.
Kim sinh Thủy.
Thủy sinh Mộc.
Khí có nguồn nối tiếp.
Nhưng nếu Thủy yếu đến mức gần như không thể chuyển lực, chuỗi sinh ấy chỉ đẹp trên giấy.
Bước 6: xem Tỷ Kiếp
Tỷ Kiên và Kiếp Tài là đồng loại của Nhật Chủ.
Nhiều Tỷ Kiếp có thể giúp Nhật Chủ tạo thế.
Nhưng một lần nữa:
Thiên Can lộ nhiều chưa chắc bằng Địa Chi có căn mạnh.
Tử Bình Chân Thuyêndùng chính hình ảnh:
Bạn bè giúp đỡ không bằng có nhà để ở.
để nói về khác biệt giữa Tỷ Kiếp trên Can và căn khí dưới Chi.
Bước 7: xem Quan Sát, Tài và Thực Thương đang lấy đi bao nhiêu lực
Đến đây mới nhìn phía bên kia cán cân.
Quan Sát
trực tiếp khắc thân.
Thực Thương
làm thân tiết khí.
Tài
làm thân tiêu hao sức để chế.
Nhưng vẫn không đếm chữ.
Phải xem mỗi lực:
đắc lệnh không?
có căn không?
có Thấu Can không?
có thành cục không?
được ai sinh?
bị ai chế?
Một Thất Sát duy nhất nhưng đắc lệnh, Thông Căn có thể nặng hơn ba chữ Quan Sát nổi bên trên mà vô căn.
Bước 8: nhìn khí thế toàn cục
Đây là bước phân biệt người đang “đếm lực” với người bắt đầu biết đọc mệnh cục.
Hãy hỏi:
Khí đang nghiêng về đâu?
Ví dụ:
Kim → Thủy → Mộc
cùng sinh về Nhật Chủ Mộc.
→ lực đang hội thân.
Hoặc:
Mộc → Hỏa → Thổ
Nhật Chủ Mộc liên tục tiết sang Hỏa, rồi Hỏa lại sinh Tài Thổ.
→ khí rời khỏi thân.
Một trường hợp khác:
Kim quá mạnh → khắc Mộc
nhưng giữa có Thủy đủ lực:
Kim → Thủy → Mộc
Quan hệ từ khắc chiến có thể chuyển thành sinh hóa.
Đây chính là nơi kiến thứcThông Quan và Khí Lưu Thôngphải được đưa trở lại.
Vượng Suy không thể tách khỏi dòng khí.
Ví dụ 1: Đắc Lệnh nhưng chưa chắc Cường
Giả sử:
Giáp Mộc sinh tháng Mão.
Thoạt nhìn:
Mộc đắc lệnh.
Nhưng các trụ còn lại lại tập trung:
Canh – Tân – Thân – Dậu
Kim rất nhiều, có căn và thành thế.
Lúc này:
Mộc đúng mùa là thật.
Nhưng:
Kim mạnh vây khắc cũng là thật.
Nếu lại thiếu Thủy dẫn Kim sinh Mộc, thiếu đồng đảng Mộc trợ thân, thì không thể cứ dựa vào chữ Mão rồi nói:
“Thân chắc chắn rất vượng.”
Đây chính là tinh thần:
đắc thời bất tất cường.
Ví dụ 2: Thất Lệnh nhưng chưa chắc Nhược
Giả sử Nhật Chủ:
Giáp Mộc
sinh tháng:
Dậu
Mộc thất thời.
Nhưng:
năm Chi có Dần;
ngày Chi có Dần;
giờ Chi có Hợi;
Thiên Can lại có Giáp, Ất, Quý.
Ta có:
hai căn Mộc;
Hợi chứa Nhâm – Giáp;
Quý Thủy sinh Mộc;
Giáp – Ất trợ Mộc.
Lúc này không thể thấy tháng Dậu rồi kết luận ngay:
Thân Nhược.
Ngược lại, đây chính là kiểu cấu trúc phải cân lại toàn bộ:
Mộc tuy thất thời nhưng đảng chúng và căn khí không hề ít.
Tinh thần này đượcTử Bình Chân Thuyênminh họa bằng trường hợpthu Mộc tuy suy nhưng căn sâu vẫn mạnh.
Thân Vượng có phải tốt hơn Thân Nhược?
Không.
Đây là một ngộ nhận rất lớn.
Vượngkhông phải lời khen.
Nhượccũng không phải lời chê.
Một Nhật Chủ quá mạnh có thể khiến mệnh cục mất cân bằng.
Một Nhật Chủ hơi yếu nhưng có hệ thống sinh – chế hợp lý vẫn có thể tạo thành cấu trúc rõ ràng.
Trong logic truyền thống:
quá nhiều và quá ít đều phải xét cách điều hòa.
Dành ngay chương sau Suy Vượng để nói về:
Trung Hòa – 中和
và xem việc nhận ra thế quân bình, quá – bất cập là nguyên tắc quan trọng của Ngũ Hành.
Vì vậy đừng hỏi:
“Thân Vượng có tốt không?”
Hãy hỏi:
“Mệnh cục này đang thừa gì, thiếu gì và dòng khí có vận hành được không?”
Thân Vượng cũng có nhiều mức
Trong thực hành hiện đại thường gặp những cách gọi:
Thân hơi Vượng
Thân Vượng
Thân quá Vượng
hoặc:
Cường Vượng – Thái Vượng.
Tương tự phía yếu:
hơi Nhược
Nhược
quá Nhược
Cực Nhược.
Đây là cách phân tầng để dễ mô tả, không nên biến thành những mốc phần trăm cứng.
Điều quan trọng nhất là nhận ra:
Nhật Chủ còn khả năng tự lập hay đã bị khí thế toàn cục lấn át?
Bởi khi đi tới hai cực:
cực Vượng
hoặc
cực Nhược
cách xử lý có thể hoàn toàn khác tư duy “yếu thì cứu, mạnh thì đánh”.
Cực Nhược chưa chắc nên sinh phù: vấn đề Tòng Cách
Đây là điểm rất quan trọng.
Nguyên tắc nhập môn thường nói:
Thân yếu → thích sinh phù.
Nhưng nếu Nhật Chủ đã yếu đến mức:
gần như vô căn;
không có Ấn – Tỷ đủ cứu;
toàn cục lại hội thành một thế rất mạnh;
thì cưỡng ép nâng Nhật Chủ lên có thể đi ngược khí thế.
Trong hệ thống truyền thống xuất hiện các cấu trúc như:
Tòng Tài
Tòng Sát
Tòng Nhi
Tòng Thế
Tử Bình Chân Thuyênkhi bàn ngoại cách cũng nêu trường hợp Nhật Chủ vô căn, toàn cục nghiêng mạnh về Tài hoặc Sát thì có thể “xả mệnh mà tòng theo” thế mạnh ấy.
Nhưng:
Tòng Cách là ngoại lệ khó xét, không phải cứ thấy Nhật Chủ yếu là gọi Tòng.
Chỉ cần Nhật Chủ còn căn thực sự hoặc sinh trợ đủ sức chống lại khí thế kia, kết luận đã có thể khác.
Cực Vượng cũng không thể cứ tiếp tục sinh thêm
Phía ngược lại cũng vậy.
Nếu một hành đã:
đắc lệnh;
nhiều căn;
đồng đảng thành thế;
toàn cục gần như thuận theo một phía;
thì đôi khi không thể dùng tư duy cơ học:
“Cứ lấy Quan Sát ra khắc cho cân.”
Nếu thế khí đã hình thành quá mạnh, việc cưỡng ép chống lại nó có thể phá dòng khí.
Bát tựtrong phầnThuận – Nghịchnhấn mạnh rằng khi khí thế đã thành, có những trường hợp phải xétthuận theo thế, không thể chỉ dùng một công thức “thừa thì cắt, thiếu thì bù”.
Đây là tầng kiến thức nằm sau Vượng Suy cơ bản.
Có phải Thân Vượng thì dùng Tài – Quan – Thực Thương?
Đây là nguyên tắc thường gặp trongphép Phù Ức:
Nhật Chủ tương đối Vượng
cần xét:
khắc – tiết – hao
tức:
Quan Sát – Thực Thương – Tài.
Nhật Chủ tương đối Nhược
cần xét:
sinh – trợ
tức:
Ấn – Tỷ Kiếp.
Nhưng chữ quan trọng nhất ở đây là:
“xét”.
Không phải:
Thân Vượng → cứ thấy Quan là Dụng Thần.
Hoặc:
Thân Nhược → cứ lấy Ấn làm Dụng.
Bởi còn phải xét:
Cách cục;
Điều Hậu;
khí thế;
Thông Quan;
thanh trọc;
bệnh dược;
Tòng hay không Tòng;
Dụng Thần đang theo hệ thống luận nào.
Nếu không, một quy tắc nhập môn rất dễ trở thànhtử pháp.
Vượng Suy và Dụng Thần không phải cùng một bước
Trình tự đúng hơn là:
Xác định Nhật Chủ
↓
Xét Nguyệt Lệnh
↓
Mở Tàng Can
↓
Xét Thông Căn – Thấu Can
↓
Xét sinh trợ – khắc tiết hao
↓
Đọc khí thế và lưu thông
↓
Xác định mức độ Cường – Nhược
↓
Phân biệt chính cách hay đặc thù
↓
sau đó mới bàn:
Dụng Thần – Hỷ Thần – Kỵ Thần
Đây là lý do nếu chưa xác định đúng Vượng Suy mà đã nhảy ngay vào:
“Tôi thiếu Hỏa nên bổ Hỏa.”
thì rất dễ đi sai từ nền móng.
“Thiếu Ngũ Hành” và “Thân Nhược” hoàn toàn khác nhau
Một lá số không thấy Kim không có nghĩa:
Nhật Chủ Nhược.
Một lá số có rất nhiều Nhật Chủ đồng hành cũng không tự động:
Thân Vượng.
“Thiếu hành” nói về:
hành đó có xuất hiện rõ trong cấu trúc hay không.
“Vượng Suy” nói về:
thực lực tương đối của khí.
Hai câu hỏi khác nhau.
Đặc biệt:
Thiếu một hành không đồng nghĩa phải bổ hành đó.
Bởi hành không xuất hiện đôi khi lại chính là hành mệnh cục không cần thêm.
Nhật Chủ Thông Căn nhưng thất lệnh thì xét thế nào?
Không thể dùng một câu duy nhất.
Ví dụ:
Giáp Mộc sinh tháng Dậu
→ thất lệnh.
Nhưng dưới có:
Dần
→ có căn mạnh.
Đây là:
thất lệnh nhưng hữu căn.
Tiếp theo phải xem:
có thêm Thủy sinh không;
có Mộc trợ không;
Dần có bị Thân xung không;
Kim có thành cục không;
Hỏa có chế Kim không.
Tùy những yếu tố đó, Nhật Chủ có thể:
Nhược nhưng có căn
hoặc:
trung hòa
thậm chí:
không hề yếu.
Đó là lý do một thuật ngữ đơn lẻ không bao giờ đủ để luận toàn mệnh.
Nhật Chủ đắc lệnh nhưng vô căn thì sao?
Tình huống ngược lại cũng rất thú vị.
Ví dụ:
Mộc đúng mùa xuân
nhưng:
ngoài Nguyệt Chi không còn Mộc căn;
Thiên Can thiếu Tỷ Kiếp;
không có Thủy;
Kim và Hỏa lại cùng lúc làm khắc – tiết mạnh.
Lúc này:
Mộc có thời
nhưng lực có thể bị tiêu hao đáng kể.
Không thể nói:
“Đúng mùa thì chắc chắn rất mạnh.”
Đây là nguyên lý:
Vượng chưa chắc Cường.
Tại sao một căn mạnh có thể đáng giá hơn nhiều Can đồng loại?
Bởi Thiên Can lộ ra giống như phần thân cây phía trên.
Nếu phía dưới không có rễ:
khí dễ phù phiếm.
Còn căn nằm trong Địa Chi là nơi khí có chỗ nương.
Tử Bình Chân Thuyênthậm chí nhấn mạnh:
Can nhiều không bằng căn nặng.
Đây cũng chính là lý do bài học:
Tàng Can → Thông Căn → Thấu Can
phải đi trước Vượng Suy.
Nếu không, người học chỉ nhìn thấy cái “lộ” mà không nhìn thấy cái “gốc”.
Vượng Suy phải xét cả hợp – xung – hội – hình
Một căn ban đầu rất mạnh có thể gặp:
xung
hợp
hội
làm quan hệ trong toàn cục thay đổi.
Ví dụ:
Nhật Chủ Giáp có căn tại Dần.
Nhưng Dần lại gặp Thân xung.
Không thể chỉ đánh dấu:
“Giáp có căn ✓”
rồi bỏ qua.
Phải hỏi:
Căn ấy đang đứng trong trạng thái nào?
Tương tự, ba Chi vốn rời nhau nhưng hội thành một phương hoặc một Tam Hợp đủ điều kiện thì khí thế có thể thay đổi đáng kể.
Do vậy Vượng Suy không phải bảng kiểm tĩnh.
Nó là bài toán về:
quan hệ đang vận động.
Không phải cứ sinh Nhật Chủ là có lợi
Đây là bước rất quan trọng để đi từ Vượng Suy sang Dụng Thần.
Ví dụ Nhật Chủ đã quá Vượng.
Nếu lại có Ấn mạnh tiếp tục sinh:
Ấn → Nhật Chủ
thì về quan hệ sinh khắc, đúng là Ấn đang “sinh tôi”.
Nhưng trong toàn cục:
sinh thêm chưa chắc có lợi.
Tương tự, một Quan Sát khắc Nhật Chủ không mặc định là xấu.
Nếu Nhật Chủ quá mạnh và Quan Sát vừa đủ để tạo chế ước:
khắc lại có thể trở thành cần thiết.
Vì vậy Bát Tự không thể học bằng:
sinh = tốt
khắc = xấu.
Mấu chốt nằm ở:
đúng lúc – đúng lượng – đúng cấu trúc.
Sai lầm thường gặp khi xác định Thân Vượng – Thân Nhược
Đếm Ngũ Hành
Ba Mộc chưa chắc mạnh hơn hai Kim.
Phải xét mùa, căn và thế.
Nguyệt Lệnh quyết định tất cả
Nguyệt Lệnh rất quan trọng nhưng không độc quyền phán quyết.
Cổ thư đã nói rõ:
năm – ngày – giờ đều có quyền tăng giảm.
Có căn là Vượng
Có căn chỉ chứng minh:
không hoàn toàn phù phiếm.
Còn căn mạnh hay yếu lại là chuyện khác.
Không có căn là chắc chắn Tòng
Sai.
Tòng Cách còn phải xét:
toàn cục có một thế áp đảo đủ rõ hay khôngvàcó sinh trợ phá thế hay không.
Nhiều Ấn – Tỷ thì chắc chắn Thân Vượng
Chưa chắc.
Nếu Ấn – Tỷ thất thời, vô căn và bị chế mạnh thì sức khác hoàn toàn.
Thân Nhược là lá số xấu
Sai.
Thân Nhược chỉ là trạng thái lực của Nhật Chủ trong một mô hình phân tích.
Không phải bảng xếp hạng tốt – xấu.
Thân Vượng là khỏe và mạnh mẽ
Không thể suy trực tiếp như vậy.
Đừng lấy thuật ngữ kỹ thuật của Bát Tự rồi biến thành kết luận về sức khỏe hoặc tính cách.
Xác định Vượng Suy bằng phần trăm tuyệt đối
Những con số như:
63% thân mạnh
có thể là kết quả của một thuật toán riêng.
Chúng không nên được xem là chân lý cổ pháp nếu không biết mô hình tính phía sau.
Cách đọc Vượng Suy đúng hơn: đừng hỏi “mạnh hay yếu” quá sớm
Khi mở một lá số, thay vì lập tức hỏi:
Thân mạnh hay yếu?
hãy đi qua chuỗi câu hỏi này:
1. Nhật Chủ là gì?
2. Sinh vào Nguyệt Lệnh nào?
3. Được thời hay thất thời?
4. Có căn không?
5. Căn mạnh hay yếu?
6. Có Thấu Can hỗ trợ không?
7. Ấn – Tỷ có thành thế không?
8. Quan Sát có bao nhiêu thực lực?
9. Thực Thương tiết bao nhiêu?
10. Tài làm thân hao bao nhiêu?
11. Có hợp – xung – hội làm thay đổi khí không?
12. Khí đang chảy về Nhật Chủ hay rời Nhật Chủ?
13. Toàn cục có cực đoan đến mức phải xét Tòng – Chuyên Vượng không?
Đến đây câu trả lời:
Vượng hay Nhược
mới thực sự có ý nghĩa.
Từ Vượng Suy đến “khả năng gánh” Thập Thần
Một cách hình dung rất hay là xem Nhật Chủ như trung tâm phải tiếp nhận và vận hành các lực:
Tài – Quan – Sát – Thực – Thương – Ấn – Tỷ.
Khi Nhật Chủ có căn và có lực, khả năng tương tác với các Thập Thần khác cũng khác.
Khi Nhật Chủ quá yếu trước một khối Tài – Quan – Sát quá lớn, quan hệ cũng khác.
Đây là nguồn gốc của những cách nói cổ như:
Thân có thể nhiệm Tài Quan
hay:
Thân không nhiệm Tài Quan.
Nhưng không nên hiểu theo nghĩa định mệnh cứng:
“Thân yếu thì không có tiền.”
Ý chính nằm ở tương quan:
chủ thể và thứ nó phải tiếp nhận có cân xứng hay không.
Vượng Suy không phải đích cuối cùng
Đây có lẽ là điều quan trọng nhất của cả bài.
Xác định:
Thân Vượng
hay:
Thân Nhược
không phải kết luận cuối cùng của một lá số.
Nó chỉ trả lời:
Nhật Chủ đang có bao nhiêu thực lực trong cấu trúc nguyên cục?
Sau đó còn phải hỏi:
khí có lưu thông không;
cấu trúc có thanh hay tạp;
Quan Sát có chế hóa không;
Tài có nguồn không;
Ấn có bị phá không;
Thực Thương có dẫn khí được không;
Hàn – Noãn – Táo – Thấp ra sao;
cách cục thuộc loại gì;
Dụng Thần nằm ở đâu;
Đại Vận đưa thêm khí gì vào.
Nếu dừng ở:
“Thân tôi mạnh.”
thì thực ra mới chỉ đứng ở cửa.
Kết luận: Muốn biết Nhật Chủ mạnh hay yếu, trước hết phải biết nó đang sống trong môi trường nào
Một Nhật Chủ không tồn tại riêng.
Nó sinh vào:
một mùa.
Nó đứng trên:
một hệ thống Địa Chi.
Nó có hoặc không có:
căn.
Xung quanh nó là:
Ấn – Tỷ – Tài – Quan – Sát – Thực – Thương.
Những khí ấy lại:
sinh – khắc – tiết – hao – hợp – xung – hội – chuyển.
Cho nên xác địnhVượng Suy Nhật Chủkhông phải bài toán:
“Có bao nhiêu chữ giống mình?”
Mà là bài toán:
Nhật Chủ có thời không?
Có đất đứng không?
Có người trợ không?
Đối phương mạnh đến đâu?
Khí đang đến với mình hay đang rời mình?
Đó chính là:
Đắc Lệnh – Đắc Địa – Đắc Thế – Khắc Tiết Hao – Khí Thế.
Và cũng cần nhớ lời cảnh tỉnh rất quan trọng củaTử Bình Chân Thuyên:
Đắc thời chưa chắc mạnh, thất thời chưa chắc yếu.
Khi hiểu được câu này, người học mới bắt đầu thoát khỏi lối xem Bát Tự bằng số lượng.
Bởi một chữ đúng thời, có căn và thành thế có thể quan trọng hơn ba chữ vô căn.
Một Nhật Chủ thất lệnh vẫn có thể đứng vững.
Một Nhật Chủ đắc lệnh vẫn có thể bị ép suy.
Một mệnh cục cực yếu đôi khi không nên cứu.
Một mệnh cục cực mạnh đôi khi cũng không nên cưỡng ép.
Vượng Suy vì thế không nằm ở một con số.
Nó nằm trongthế vận động của khí.
Và khi đã nhìn ra được thế ấy, bước tiếp theo mới thật sự bắt đầu:
Khí nào nên giữ?
Khí nào cần tiết?
Khí nào đang gây bệnh?
Khí nào có thể trở thành thuốc?
Đó chính là cánh cửa dẫn sang:
Dụng Thần – Hỷ Thần – Kỵ Thần trong Bát Tự.
Bạn cũng có thể sử dụng công cụLập lá số Bát Tự (八字)để tiếp tục khảo sát vận hạn ở tầng cá nhân.
Câu hỏi thường gặp về Vượng Suy Nhật Chủ
Nhật Chủ là gì?
Nhật Chủ là Thiên Can của trụ ngày, được dùng làm điểm quy chiếu để xác định Thập Thần và nhiều quan hệ sinh khắc trong Bát Tự.
Thân Vượng là gì?
Là cách gọi khi Nhật Chủ có thực lực tương đối mạnh trong toàn mệnh thông qua thời khí, căn khí, sinh trợ và thế lực.
Thân Nhược là gì?
Là khi Nhật Chủ tương đối thiếu lực so với tổng thể lực khắc, tiết, hao hoặc thiếu căn – thiếu sinh trợ.
Thân Vượng có phải số tốt không?
Không. Vượng và Nhược không phải nhãn tốt – xấu.
Thân Nhược có phải sức khỏe yếu không?
Không thể suy trực tiếp như vậy. “Thân” ở đây chủ yếu chỉ Nhật Chủ trong mô hình Bát Tự.
Yếu tố nào quan trọng nhất khi xét Vượng Suy?
Nguyệt Lệnh là đầu mối rất quan trọng, nhưng phải kết hợp căn khí, sinh trợ, đồng đảng, khắc tiết và khí thế toàn cục.
Đắc Lệnh có chắc chắn Thân Vượng không?
Không. Đây chính là ý “đắc thời bất vượng” được bàn trongTử Bình Chân Thuyên.
Thất Lệnh có chắc chắn Thân Nhược không?
Không. Nếu căn sâu, Ấn Tỷ mạnh và thành thế thì Nhật Chủ vẫn có thể có thực lực đáng kể.
Có thể đếm số lượng Ngũ Hành để xác định Thân mạnh yếu không?
Không nên. Số lượng không thể thay cho mùa khí, căn khí và thực lực.
Nhật Chủ có căn là Thân Vượng phải không?
Không. Có căn chỉ là một yếu tố của Đắc Địa.
Thân Nhược thì luôn dùng Ấn và Tỷ Kiếp phải không?
Đó là nguyên tắc cơ bản của một số cách Phù Ức, không phải công thức áp dụng vô điều kiện. Cực Nhược, Tòng Cách và các cấu trúc đặc biệt phải xét riêng.
Thân Vượng thì luôn dùng Quan Sát phải không?
Không. Còn phải xét Thực Thương, Tài, cách cục, khí thế, Điều Hậu và nhiều quan hệ khác.
Vượng Suy và Dụng Thần có giống nhau không?
Không. Vượng Suy đánh giá thực lực; Dụng Thần là bước phân tích tiếp theo về yếu tố cần thiết đối với cấu trúc mệnh cục.
Bước tiếp theo sau khi học Vượng Suy là gì?
Nên học tiếp:
Dụng Thần – Hỷ Thần – Kỵ Thần
nhưng trước khi học sâu về Dụng Thần cũng cần hiểu rằng các hệ thống Tử Bình khác nhau có cách sử dụng chữ “Dụng Thần” không hoàn toàn giống nhau.